BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

CỤC XUẤT BẢN, IN VÀ PHÁT HÀNH

CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bạn Đang Xem: Tổng kết hoạt động in năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 (Văn Bản)

Hà Nội, ngày 22 tháng 3 năm 2022

 

Bạn Đang Xem: Tổng kết hoạt động in năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 (Văn Bản)

Tổng kết hoạt động in năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022

I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG NGÀNH IN NĂM 2021

1. Bối cảnh

Năm 2021 tiếp tục là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và Ngành In Việt Nam nói riêng trong bối cảnh ảnh hưởng của dịch Covid-19. Thị trường biến động, chính sách điều hành kinh tế của Chính phủ trong đại dịch có nhiều thay đổi đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp in, gây ra tình trạng xáo trộn và đứt gãy chuỗi cung ứng, khiến tất cho các khâu của quá trình sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng vốn được liên kết chặt chẽ, thông suốt trên bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Đặc biệt, 6 tháng cuối năm, tình hình dịch diễn biến phức tạp hơn và căng thẳng kéo dài, gây ảnh hưởng và thiệt hại cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Ngành In đã gặp phải rất nhiều khó khăn, không đủ nguyên liệu cho sản xuất, nguồn cung vật tư chính như giấy tăng cao từ 40%-60%, chi phí logistics và vận tải đường biển tăng từ 50%-80%. Cùng với đó, các doanh nghiệp trong ngành còn chịu thiệt hại rất lớn do phải thực hiện các yêu cầu vừa chống dịch vừa sản xuất như “3 tại chỗ”, “một cung đường, hai điểm đến” v.v…, chi phí sản xuất gia tăng; tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào và gián đoạn chuỗi tiêu thụ sản phẩm xảy ra ở nhiều doanh nghiệp, nhất là hoạt động của các doanh nghiệp tại khu vực phía nam.

Tuy nhiên, thực hiện phương châm thích ứng linh hoạt, an toàn với Covid, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, nên dù trong bối cảnh khó khăn đó, nền kinh kế Việt Nam nói chung, và ngành in nói riêng vẫn có những “điểm sáng” rất cơ bản; đồng thời cũng cho thấy rất rõ những mặt tồn tại, hạn chế cần được khắc phục.

a) Số lượng, phân bố, phân cấp, mô hình các cơ sở in

Năm 2021có 2.309 cơ sở in cấp giấy phép hoạt động (tăng 4,1%), được phân bố và phân cấp như sau:

1Số liệu so sánh với năm 2020.

  • Phân bố theo vùng: Thành phố Hà Nội: 338 cơ sở in (tăng 8,6%), thành phố Hồ Chí Minh: 625 cơ sở (tăng 5,75%), Tây Bắc Bộ: 46 cơ sở, Đông Bắc Bộ: 128 cơ sở, Đồng Bằng sông Hồng (không bao gồm Hà Nội): 258 cơ sở (tăng 9,8%), Bắc Trung Bộ: 107 cơ sở, Nam Trung Bộ: 123 cơ sở, Tây Nguyên: 89 cơ sở, Đông Nam Bộ (không bao gồm TP.HCM): 287 cơ sở in (trong đó Bình Dương là 201 cơ sở in), Đồng bằng sông Cửu Long: 306 cơ sở
  • Phân cấp Trung ương và địa phương: 112 cơ sở in Trung ương (5%) và 2.197cơ sở in ở địa phương (95%).
  • Phân loại theo vốn đầu tư: Doanh nghiệp Việt Nam: 1981 cơ sở (chiếm 85,8%) tăng 0,3%; Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên kết Việt Nam – nước ngoài: 328 cơ sở (chiếm 14,2%).
  • Phân loại theo cơ cấu sản phẩm: Đơn vị có in xuất bản phẩm và các sản phẩm khác: 1129 cơ sở (51%); Đơn vị không in xuất bản phẩm (in bao bì, nhãn hàng): 1180 cơ sở (49%).

b) Doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách

Năm 2021, tổng doanh thu toàn ngành đạt85.460 tỷđồng (giảm 8,9%); Nộp ngân sách đạt 3.000tỷ đồng (giảm 1,6%); Lợi nhuận (sau thuế)đạt 3839 tỷ đồng (giảm 17,2 %).

c) Thiết bị, nguyên vật liệu

Năm 2021, tổng số máy in công nghiệp (gồm máy in offset, máy in flexo, máy in ống đồng) nhập khẩu vào Việt Nam là 994 chiếc (tăng 18%) với giá trị xấp xỉ 3.178 tỷ đồng, trong đó số máy in công nghiệp nhập khẩu mới 100% chiếm tỷ lệ 65%. Những máy in này phần lớn là máy in từ 4 màu trở lên (chiếm khoảng 80%), một số máy in có giá trị lớn từ vài chục tỷ đồng đến gần 100 tỷ đồng2.

Năm 2021 tổng sản lượng giấy các loại đạt 5,45 triệu tấn, tăng trưởng 8,0%, tương ứng với lượng tăng 0,47 triệu tấn so với năm 2020 (đạt sản lượng 4,98 triệu tấn). Trong đó, giấy bao bì (testliner và medium) đạt sản lượng 4,728 triệu tấn, tăng 11% so với năm 2020; giấy in và giấy viết, năm 2021 sản lượng đạt 256,5 nghìn tấn, giảm 13% so với 295,0 nghìn tấn của năm 2020; giấy vàng mã, năm 2021 sản lượng đạt 148,8 nghìn tấn, giảm 5% so với năm 2020 sản lượng đạt 157,3 nghìn tấn.3

d) Nhân lực

Số lượng lao động năm 2021là 58.800lao động (giảm 3,16%); trong đó số lao động nam chiếm 59,8% tổng số lao động. Số lao động được đào tạo dưới mọi hình thức (từ sơ cấp đến trung cấp, cao đẳng, đại học) dưới 60%. Trong số lao động được đào tạo trên Đại học chưa tới 1%, Đại học và Cao đẳng chiếm khoảng 20%, trung cấp khoảng 10%, còn lại là Sơ cấp nghề hoặc chưa qua đào tạo4.

a) Một số kết quả nổi bật

Mặc dù năm 2021 là một năm đầy khó khăn và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam cũng như đối với các doanh nghiệp ngành in do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhưng các doanh nghiệp ngành In Việt Nam nỗ lực vượt khó, đạt được một số kết quả đáng khích lệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, như:

  • Hệ thống mạng lưới cơ sở in được giữ vững;sản lượng in đạt gần 90% theo kế hoạch; doanh thu toàn ngành tuy giảm nhưng số lượng cơ sở in so với năm 2020 tiếp tục tăng, tập trung vào một số trung tâm, khu vực trọng điểm như: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 106%; Thành phố Hà Nội tăng 109%, các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng tăng 110%. Số lượng cơ sở này chủ yếu khối in bao bì (chiếm 97% số cơ sở sở in thành lập năm 2021).
  • Việc đầu tư hiện đại hóa ngành tiếp tục được đẩy mạnh. Quá trình cổ phần hóa, nhu cầu tăng trưởng của các ngành kinh tế cùng tiềm lực của các thành phần kinh tế đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp in mạnh dạn mở rộng và hiện đại hóa quy trình, nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng những đơn hàng có yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật cao đạt tiêu chuẩn quốc tế. Các doanh nghiệp in tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất và quản lý, đầu tư thiết bị in hiện đại nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Đầu tư trung bình của ngành in trong 2021 vẫn duy trì ở mức trên 3000 tỷ. Quá trình in được chú trọng đầu tư chủ yếu với các thiết bị in hiện đại, mới 100% với mức độ tự động hóa cao. In ống đồng và in flexo có sự phát triển ở in bao bì, nhãn mác. Năm 2021, số lượng máy in flexo, máy in leterpress được nhập khẩu vào Việt Nam chiếm tỷ lệ cao trên 59% trên tổng số thiết bị in công nghiệp nhập khẩu. In offset vẫn là công nghệ in chủ đạo, chiếm 27% giá trị đầu tư trên tổng số thiết bị. In kỹ thuật số phát triển nhanh với các thiết bị in khổ lớn, tốc độ cao, đáp ứng thị trường in thương mại và in sản phẩm cá nhân hóa.

b) Hạn chế, tồn tại chủ yếu

  • So sánh trong khu vực cho thấy, qui mô ngành công nghiệp in Việt Nam tuy có bước phát triển nhưng còn chưa tương xứng với tiềm năng. Hiện cả nước trên 2300 cơ sở in công nghiệp nhưng số đơn vị có quy mô nhỏ5 và vừa chiếm tỷ lệ lớn6, trên 90%7.
  • Việc chuyển đổi công nghệ trước, trong và sau in tuy đã có những thay đổi nhất định nhưng chưa đồng đều. Số các doanh nghiệp in của nhà nước tuy đã được tiến hành cổ phần hóa, nhưng phương pháp tổ chức bộ máy và công tác quản trị doanh nghiệp còn chưa chuyển biến đồng bộ; việc áp dụng mô hình tổ chức chưa gắn kết với quy mô, tính chất đặc thù của doanh nghiệp đã gây nhiều khó khăn trong quá trình vận hành và tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Hầu hết các doanh nghiệp chưa đầu tư, quan tâm đến xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế để tham gia chuỗi sản xuất hàng hóa cung ứng toàn cầu. Các doanh nghiệp nhỏ hạn chế nguồn lực, không có năng lực tái đầu tư, công nghệ còn lạc hậu, không đáp ứng các tiêu chuẩn cao của thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu; không bảo đảm yêu cầu về môi trường.
  • Năng suất lao động thấp, chất lượng nguồn nhân lực có dấu hiệu giảm sút rõ rệt nguyên nhân là do số lao động có trình độ tay nghề cao (bao gồm cả những kỹ sư, công nhân bậc cao đào tạo tại nước ngoài) phần lớn đã hết tuổi lao động; tính chuyên nghiệp hạn chế. Số lao động lâu năm trong ngành lại khó khăn trong việc cập nhật tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Do những khó khăn về kinh phí, rất ít doanh nghiệp đầu tư kinh phí cho khâu đào tạo cũng như tự đào tạo.
  • Năng lực đào tạo hiện có của các trường trong những năm qua chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động ngành in. Nội dung đào tạo chưa bám sát sự phát triển của công nghệ, thiết bị, gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp in, để nhân lực được đào tạo khi ra trường có thể bắt tay vào làm việc được ngay nhằm tránh tình trạng vừa thiếu nhân lực có chất lượng cao, nhưng lại thừa nhân lực do không đáp ứng được yêu cầu sản xuất mới.

Xem Thêm : Xưởng In Hộp Giấy Chất Lượng #5 Mẫu hộp giấy đẹp nhất 2020

1. Công tác xây dựng, triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật và chính sách phát triển Ngành

  • Năm 2021, Chủ trì xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in và Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in.
  • Phối hợp xây dựng Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 119/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản. Nghị định bổ sung chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với các sản phẩm in không phải là xuất bản phẩm.
  • Chưa ban hành được các quy định về tiêu chuẩn nghề in phù hợp với sự phát triển trong tình hình mới của CMCN 0.
  • Đề xuất các cơ chế, chính sách, hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ trong bối cảnh tác động của dịch Covid-19:

+ Kiến nghị Thủ tướng và Bộ Tài chính đưa các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xuất bản, in và phát hành vào nhóm đối tượng được miễn giảm thuế, phí và giãn nộp thuế tương ứng thời gian dịch bệnh nhằm tháo gỡ khó khăn cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19;

+ Đề nghị đối với các địa phương có cơ chế, chỉ đạo giảm giá tiền thuê đất, tiền thuê mặt bằng cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xuất bản, in và phát hành;

+ Đề xuất giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp của Bộ, ngành hỗ trợ lãi vay, tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19;Giảm chi phí dịch vụ với các dịch vụ thuộc thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông.

  • Tính đến ngày 10 tháng 3 năm 2022, các cơ quan quản lý hoạt động in trên cả nước đã tiến hành 722 cuộc thanh tra, kiểm tra các cơ sở in, cơ sở phát hành, cơ sở photocopy (giảm 43,6%) và ban hành 32 Quyết định xử phạt hành chính với tổng số tiền phạt 782.000.000 đồng (giảm 4,4%); tịch thu, tiêu hủy 145.033 xuất bản phẩm (tăng 15%).
  • Năm 2021, công tác phòng, chống in lậu đã được quan tâm và tăng cường bằng nhiều hình thức hoạt động tạo thành sức mạnh tập thể xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, đó là sự tham gia vào cuộc đồng bộ, hiệu quả giữa Bộ Thông tin và Truyền thông với các Bộ, các Sở Thông tin và Truyền thông, Đoàn liên ngành phòng, chống in lậu Trung ương và các Đội liên ngành địa phương, đặc biệt là có sự vào cuộc của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) bắt gần 4 triệu sách giáo dục lậu của Công ty Cổ phẩn in và Văn hóa truyền thông Hà Nội, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Phú Hưng Phát. Đây là vụ việc được cả nước ghi nhận lớn nhất từ trước tới nay đã góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực in nói riêng, lĩnh vực xuất bản, in và phát hành nói

       Mặc dù vậy, công tác kiểm tra, phát hiện, xử lý in lậu, in giả còn một số mặt hạn chế, tính chủ động, kịp thời chưa cao. Cụ thể:

  • Số lượng các đợt tuyên truyền phổ biến pháp luật, tập huấn nghiệp vụ, chuyên môn giảm 41,8% so với năm 2020; số lượt kiểm tra, phối hợp thanh tra xử lý vi phạm tại địa phương giảm bằng 43,6% so với năm
  • Việc quản lý hoạt động cơ sở in, photocopy chưa hiệu quả. Một số tỉnh thành phố, số liệu về cơ sở in, photocopy trên thực tế nhiều hơn so với danh sách quản lý của địa phương8.Đây là những số liệu chưa đầy đủ, cần thiết phải hoàn thiện nhanh, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước được tốt hơn; nhất là đối với công tác phòng, chống in lậu. Nhiều cơ sở in, cơ sở dịch vụ photocopy hoạt động nhưng chưa được đưa vào danh sách cụ thể, chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động của các cơ quan chức năng.
  • Việc thực thi pháp luật của một số cơ sở in vẫn còn yếu;có nơi, việc kiểm tra đôn đốc của cơ quan quản lý còn chưa được sát sao. Sau 08 năm thực hiện Nghị định 195/2013/NĐ-CP và 07 năm thực hiện Nghị định 60/2014/NĐ- CP nhưng đến nay một số quy định của pháp luật về hoạt động in vẫn chưa được triển khai đồng bộ,vẫn còn nhiều cơ sở in chưa thực hiện các quy định đảm bảo điều kiện hoạt động in. Theo báo cáo của các Sở Thông tin và Truyền thông từ năm 2015 đến năm 2021 hiện mới chỉ cấp mới 494 giấy phép hoạt động in và cấp đổi 509 giấy phép hoạt động in trên tổng số cơ sở in có giấy phép hoạt động in là 1.129 cơ sở in, còn 126 cơ sở in chưa thực hiện cấp đổi giấy phép hoạt động in (năm 2020 là 340 cơ sở in chưa thực hiện cấp đổi)9.
  • Một số địa phương gặpvấn đề khó khăntrong việctiến hành kiểm tra, thanh tra các cơ sở in hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực đất an ninh, quốc phòng vẫn chưa được cải thiện mặc dù đã có nhiều phản ánh đến các cơ quan chủ quản của cơ sở in nằm trên địa bàn này.
  • Công tác phối hợp trong quản lý nhà nước ngày càng quán triệt xuyên suốt trong quá trình chỉ đạo của lãnh đạo các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương. Nó thể hiện cụ thể qua các đợt tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật đến việc rà soát cấp phép, đăng ký, xác nhận, khai báo…, trong lĩnh vực in; kiện toàn, thành lập mới Đoàn, Đội liên ngành…
  • Công tác phối hợp hỗ trợ nghiệp vụ, trợ giúp pháp lý, cung cấp thông tin, phổ biến kinh nghiệm đã được triển khai thường xuyên, kịp thời trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ giữa cơ quan quản lý các cấp, các ngành đã đem lại hiệu quả thiết thực. Sự phối hợp công tác của từng cán bộ ở từng đơn vị và các đơn vị với nhau ngày càng chặt chẽ, hiệu quả với tinh thần trách nhiệm cao trong việc trao đổi và cung cấp thông tin đã trở thành một phần thiết yếu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý ở các ngành, các cấp.

       Mặc dù có nhiều tiến bộ trong công tác phối hợp nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể:

  • Công tác giữa Cục Xuất bản, In và Phát hành, Đoàn liên ngành Trung ương với các Sở Thông tin và Truyền thông và một số cơ quan liên quan còn chưa chặt chẽ. Hiện nay, Đoàn liên ngành chưa xây dựng cơ chế phối hợp với Tổng Cục Quản lý Thị trường (Tổ công tác 304); Công tác phối hợp với của Đoàn liên ngành Trung ương với các hội nghề nghiệp, nhất là với Hiệp hội In Việt Nam chưa chặt chẽ, chưa phát huy vai trò tích cực của Hội vào công tác phòng, chống in lậu; hầu hết hoạt động mới chủ yếu tập trung vào tuyên truyền, phổ biến pháp luật; chưa hỗ trợ sâu về các nghiệp vụ khác trong phòng, chống in lậu.
  • Việc phối hợp giữa các Đội liên ngành địa phương hoặc giữa Đội liên ngành địa phương với các ngành liên quan trên địa bàn đã có một số tiến bộ nhưng vẫn có lúc, có nơi còn chưa chặt chẽ, thiếu kịp thời. Nhiều trường hợp, khi phát hiện vụ việc sai phạm, nhất là các trường hợp vi phạm diễn ra trên nhiều địa bàn, công tác phối hợp thanh tra, kiểm tra, xác minh giữa các Đội liên ngành bị hạn chế, ảnh hưởng đến kết quả chung của công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý sai phạm.
  • Chưa phối hợp xây dựng hệ thống kết nối dữ liệu liên thông, đăng tải công khai hoạt động quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính trên Cổng thông tin điện tử, từ đó việc thống kê, khai thác thông tin dữ liệu gặp khó khăn.

1. Xu hướng của Ngành in và dự báo sản xuất, thị trường năm 2022

Xu hướng chung trong 5 năm tới của ngành in sẽ chuyển dịch theo hướng hiệu quả và số hóa. Việc in ấn tài liệu trên giấy của các tổ chức, cá nhân sẽ giảm nhiều do các công cụ mới giúp xử lý tài liệu mà không cần in(hiện nay việc in ấn tài liệu của các công ty là 78%, dự kiến năm 2025 chỉ còn 64%). Theo dự báo, chỉ còn 36% (so với 61% hiện tại) các công ty dự kiến còn duy trì in hóa đơn của họ. Số hóa tác động trực tiếp đến ngành in với mục tiêu để phát triển nhanh hơn nữa10.Năm 2022, ngành in trong nước sẽ có nhiều cơ hội phát triển, về tiêu dùng trong nước dự báo tăng trưởng trở lại khoảng 8-10%. Các yếu tố tích cực cũng như tiêu cực tác động đến sự tăng trưởng của ngành in tại Việt Nam như sau:

Một là,ngành in có sự tăng trưởng tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế, trong khi đó mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2022 được Quốc hộiViệt Nam thông qua tại Nghị quyết số 32/2021/QH15 ngày 12/11/2021 về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022, trong đó: GDP tăng từ 6,0- 6,5%, GDP bình quân đầu người đạt 3.900 USD, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,0%, tiêu dùng bán lẻ trong nước tăng trở lại mạnh mẽ trên 10%.

Hai là, xu hướng dịch chuyển các nhà máy công nghiệp của các doanh nghiệp FDI từ các trung tâm sản xuất lớn như Trung Quốc sang các quốc gia Đông Nam Á hoặc chuyển trở về sản xuất trong nước (các công ty đa quốc gia của Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU) đã làm thay đổi cấu trúc và cơ cấu nền kinh tế của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đồng thời là sự dịch chuyển của các doanh nghiệp từ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản sang Việt Nam để gia công vở, sổ, biểu mẫu xuất khẩu, gia công bao bì giấy xuất khẩu do thách thức mức thuế suất 25% của Mỹ đối với các sản phẩm từ Trung Quốc11.

Ba là,cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường các nước CPTPP, EVFTA , Mỹ và các thị trường trong khối RCEPsẽ gia tăng mạnh mẽ do được ưu đãi về thuế và tăng trưởng giao dịch thương mại. Đây là cơ hội cho thị trường ngành in phát triển. Cùng với đó, chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI tăng tỷ lệ nội địa hoá và chính sách xuất xứ sản phẩm được ban hành trong năm 2022 mở thêm cơ hội cho các dòng vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực in.

Bốn là, việc hạn chế rác thải nhựa, hạn chế sử dụng túi nilon và gia tăng khuyến khích sử dụng bao bì giấy thay thế đang có dấu hiệu phát triển sâu rộng và mạnh tại Việt Nam vào năm 2022 -2025. Ngoài ra, tiêu dùng giấy bao bì trên thế giới và khu vực Châu Á dự báo có thể tăng trưởng trở lại trên 3%, việc hạn chế rác thải nhựa và nhiều quốc gia, khu vực sẽ ban hành lệnh hạn chế thậm chí cấm sử dụng túi nilon trên thế giới đang lan rộng và tăng cao, đặc biệt là ở các nền kinh tế lớn được thực hiện mạnh trong giai đoạn 2022 -2025.

Bên cạnh các cơ hội trên, cũng có những thách thức dành cho các cơ sở in, như: tốc độ tiêu dùng trên thế giới dự báo tăng khoảng 1,5% nhưng không  lấy lại được mốc trước đó của năm 2019, còn đối với Việt Nam tốc độ tăng trưởng bị giảm sút do Chính phủ thúc đẩy chương trình công nghệ số hoá, Chính phủ điện tử, thương mại điện tử và bán hàng online, mô hình hội họp và học online đang gia tăng nhanh hơn. Đồng thời, thách thức về sản xuất và tiêu thụ nội địa sẽ gia tăng bởi một số cơ sở in mới, kết hợp với nguyên vật liệu giấy và cước chi phí vận chuyển vẫn ở mức tăng cao tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt.

Năm 2022 dự báo tình hình kinh tế tiếp tục diễn biến phức tạp, nhanh,  khó lường, đặc biệt là thách thức thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu…Vì vậy, toàn ngành cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa, vượt qua khó khăn, thách thức, bám sát thực tiễn, hành động quyết liệt, phấn đấu thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch đã đề ra, vững bước tiến vào giai đoạn phát triển mới.

a) Đối với cơ quan quản lý nhà nước

  • Nghiên cứu hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để phát triển lĩnh vực in theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Cụ thể xây dựng phương án sửa đổi Luật Xuất bản năm 2012 nhằm thay đổi các quy định về in xuất bản phẩm theo hướng thông thoáng, mở rộng thị trường in, đối tượng in; hoàn thiện quy định tại Nghị định số 60/2014/NĐ-CP về hoạt động in và Nghị định số 25/2018/NĐ-CP về sửa đổi Nghị định 60/2014/NĐ-CP12.
  • Triển khai và thể chế hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 12/7/2020 của Chính phủ ban hành chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025 và Quyết định 1194/QĐ-TTg ngày 26/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông giai đoạn 2020-2025.
  • Nâng cao hiệu lực hiệu quả trong công tác quản lýtừ Trung ương đến địa phương; Tập trung công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là in lậu.
  • Phối hợp xây dựng và hoàn thiện hệ thống dữ liệu quản lý lĩnh vực xuất bản, in và phát hành.

b) Đối với Hiệp hội In Việt Nam, các hội in thành phố

  • Phối hợp xây dựng, hoàn thiện hệ thống dữ liệu ngành hướng tới liên thông trong toàn ngành; Chủ động tham gia phản biện chính sách, tích cực bảo vệ lợi ích thành viên hội.
  • Tăng cường, thường xuyên hợp tác với hiệp hội in các nước có ngành in phát triển để tiếp thu những công nghệ mới, phối hợp xây dựng các tiêu chuẩn ngành trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế;hỗ trợ các doanh nghiệp in tìm kiếm nguồn công việc, tham gia đàm phán, giao dịch quốc tế.
  • Xây dựng trung tâm tư vấn về nghề in hỗ trợ các các cơ sở in nâng cao trình độ, năng lực quản lý, sản xuất, đạt được các chứng chỉ quốc tế, đủ điều kiện tham gia thị trường in xuất khẩu.

c) Đối với các cơ sở đào tạo

  • Đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành in, gồm đào tạo nghề, đào tạo cán bộ quản lý, kỹ sư, công nhân kỹ thuật.Nội dung đào tạo cần bám sát sự phát triển của công nghệ, thiết bị, gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp in, để nhân lực được đào tạo khi ra trường có thể bắt tay vào làm việc được ngay, tránh tình trạng vừa thiếu nhân lực có chất lượng cao, nhưng lại thừa nhân lực do không đáp ứng được yêu cầu sản xuất mới.
  • Tăng cường, thường xuyên hợp tác với các nước có ngành in phát triển để cử sinh viên, cán bộ đi học tập và đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực cho ngành in phù hợp với sự phát triển của thế giới.

d) Đối với cáccơ sở in

  • Chủ động tìm hiểu thị trường in xuất khẩu trên thế giới, để chuẩn bị cho mình các chứng chỉ quốc tế về tiêu chuẩn quản lý, về chất lượng sản phẩm; xây dựng dây chuyền sản xuất phù hợp; tăng cường giao lưu học hỏi cách phát triển của doanh nghiệp in xuất khẩu trong và ngoài nước để gia nhập thị trường in xuất khẩu.
  • Chú trọng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo tại chỗ nhằm nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm in của cơ sở.

Trên đây là kết quả hoạt động ngành in trong năm 2021 và nhiệm vụ  trọng tâm cần triển khai trong năm tiếp theo.Tuy chưa thật sự đầy đủ, nhưng đã thống kê, đánh giá và định hướng khái quát được diện mạo về hoạt động in trên cả nước. Kết quả hoạt động in vẫn còn tồn tại, hạn chế nhất định, đề nghị các đồng chí tham gia Hội nghị nêu cao tinh thần trách nhiệm, nghiên cứu, thảo luận và đề xuất các giải pháp, sáng kiến giúp cho ngành in phát triển góp chung vào công cuộc phát triển của đất nước./.

 

Bạn Đang Xem: Tổng kết hoạt động in năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022 (Văn Bản)

PHỤ LỤC

Bảng 1: Số liệu các chỉ tiêu của ngành công nghiệp in VN  

Bảng 2: Số liệu các cơ sở đào tạo và số lượng học sinh được đào tạo

Chú thích: 

1Số liệu so sánh với năm 2020.

2Theo số liệu cấp phép tại Cục Xuất bản, In và Phát hành (Offset 272 chiếc, Flexo 367 chiếc, Ống đồng 98 chiếc và 104 máy in Letterpress).

Xem Thêm : Decal dán kính? Có mấy loại decal dán, Mẫu decal đẹp nhất 2020

3Theo số liệu đăng trên tạp chí Công nghiệp giấy Việt Nam số 01-2022.

4Xem phụ lục số liệu 02.

5 Doanh nghiệp có từ 10 đến 100 người, doanh thu dưới 50 tỷ/năm.

6 Doanh nghiệp có trên 100 đến dưới 300 lao động, doanh thu khoảng 300 tỷ/năm.

7 Theo thống kê trên Statictic, năm 2019, Thái Lan có trên 5000 cơ sở in, trong đó có khoảng 2000 cơ sở in quy mô, hiện đại.

8Tính đến ngày 10/3/2022, thành phố Hà Nội mới có 338 cơ sở in, thành phố Hồ Chí Minh có 625 cơ sở in, tỉnh Bình Dương có 201 cơ sở in, Thành phố Đà Nẵng có 4 cơ sở in… được cập nhật.

9 Theo thống kê trên hệ thống báo cáo trực tuyến của Cục Xuất bản, In và Phát hành https://ppdvn.gov.vn/web/guest/so-tttt-bao-cao

10 Theo nhận định của MYQ đăng ngày 26/10/2020. https://www.myq-solution.com/en/print-2025- digital-transformation-of-the-printing-industry.

11 Theo số liệu đăng trên tạp chí Công nghiệp giấy Việt Nam số 01-2022.

12 Dự kiến trình để Chính phủ ban hành trong Quý II năm 2022.

Văn bản chi tiết xin tham khảo: Tổng kết hoạt động in năm 2021và triển khai nhiệm vụ năm 2022

Nguồn: https://suamaytinhit.com
Danh mục: Máy in